Thứ Ba, Tháng Bảy 5, 2022
HomeWikiTổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt...

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam là chức danh lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ 1951 đến 1969, vị trí cao nhất là Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam của Hồ Chí Minh; tuy nhiên, sau khi Hồ Chí Minh qua đời, chức danh này bị bãi bỏ và Tổng Bí thư trở lại thành chức vụ cao nhất. Từ 1960 đến 1976, chức vụ này được gọi là Bí thư thứ nhất.

Tổng Bí thư là người đứng đầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, chủ trì việc làm của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và những quyền hạn khác. Hiện nay, Tổng Bí thư cũng kiêm nhiệm Bí thư Quân ủy Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, xấu đi .Theo điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại hội Đại biểu toàn nước của Đảng Cộng sản sẽ bầu ra Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chấp hành Trung ương bầu ra Bộ Chính trị và bầu Tổng Bí thư từ một trong những Ủy viên Bộ Chính trị. Kể từ năm 2001, nhiệm kỳ Tổng Bí thư tương tự nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Trung ương ; chiến sỹ Tổng Bí thư sẽ giữ chức vụ cho tới khi Ban Chấp hành Trung ương khóa mới bầu ra Tổng Bí thư mới .

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào ngày 3 tháng 2 năm 1930, người đứng đầu điều hành Ban Chấp hành Trung ương Đảng đầu tiên với cương vị Phụ trách Điều hành Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam là Trịnh Đình Cửu (đến tháng 10 năm 1930).

Tháng 4/1930, Trần Phú trở về từ Liên Xô. Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời và được phân công cùng Ban Thường vụ Trung ương chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 1 và dự thảo cương lĩnh chính trị. Hội nghị lần thứ 1 tháng 10/1930 quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương và bầu Trần Phú làm Tổng Bí thư, đồng thời thông qua Luận cương chính trị. Ông giữ chức vụ tới khi bị Pháp bắt tháng 4/1931. Trong thời gian từ 1931–1935, chức vụ Tổng Bí thư bị khuyết.

Trong thời hạn 1930 – 1931, những tổ chức triển khai cộng sản tại Đông Dương lần lượt bị khủng bố. Năm 1932, Quốc tế cộng sản ra thông tư thiết kế xây dựng lại tổ chức triển khai cộng sản. Dưới sự chỉ huy của Lê Hồng Phong. Hội nghị Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương được tổ chức triển khai tại Macao tháng 6/1934 và Lê Hồng Phong được bầu làm Bí thư Ban Chỉ huy hải ngoại Đảng Cộng sản Đông Dương .Tại Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương, Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư. Tại Hội nghị Trung ương năm 1936, Ban Chấp hành đã bầu Hà Huy Tập thay cho Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư và về nước tổ chức triển khai lại lực lượng cộng sản. Tại Hội nghị Trung ương năm 1938 tổ chức triển khai tại Bà Điểm, Hà Huy Tập thôi chức vụ Tổng Bí thư, Ban Chấp hành quyết định hành động bầu Nguyễn Văn Cừ tiếp sau. Nguyễn Văn Cừ bị thực dân Pháp bắt về phán quyết năm 1940, Hội nghị Trung ương năm 1940 buộc phải nhóm họp tại Đình Bảng, hội nghị quyết định hành động chỉ định Trường Chinh khi đó là Ủy viên Thường vụ Trung ương làm quyền Tổng Bí thư, và tại Hội nghị năm 1941 được bầu làm Tổng Bí thư .Cả bốn Tổng Bí thư tiên phong của Đảng Cộng sản Việt Nam ( Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ ) đều bị thực dân Pháp bắt giam và quyết tử trong quy trình hoạt động giải trí cách mạng khi còn khá trẻ ( 2 người tiên phong qua đời khi bị giam trong nhà tù Pháp, 2 người sau bị Pháp xử tử hình ) .

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Việt Nam và thực dân Pháp giao tranh chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Năm 1951 tại Đại hội Đảng lần thứ II, Đại hội quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam đồng thời bầu Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng và Trường Chinh tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư. Trong thời gian này 1951–1969, chức vụ Chủ tịch Đảng là chức vụ quyền lực nhất của Đảng, lớn hơn cả Tổng Bí thư. Trong thời gian cải cách ruộng đất vì những sai lầm nghiêm trọng, Trường Chinh từ chức Tổng Bí thư. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 10, khóa II, Hồ Chí Minh với chức vụ Chủ tịch Đảng được Trung ương Đảng phân công kiêm nhiệm chức vụ Tổng Bí thư.[2] Đại hội lần thứ III, thành lập chức vụ Bí thư thứ nhất do Lê Duẩn đảm nhiệm. Chủ tịch Đảng là chức vụ cấp cao nhất, nhưng thực tế Bí thư thứ nhất đảm nhiệm chính công tác của đảng. Sau khi thống nhất năm 1975, Đại hội Đảng lần thứ IV được tổ chức, tên Đảng được đổi thành Đảng Cộng sản Việt Nam và chức vụ được đổi thành Tổng Bí thư. Chức vụ do Lê Duẩn nắm giữ cho tới khi qua đời.

Sau khi Lê Duẩn mất, Trung ương chưa kịp bước vào Đại hội nên tại Hội nghị đặc biệt quan trọng tổ chức triển khai năm 1986 tại Thành Phố Hà Nội quyết định hành động bầu Trường Chinh khi đó đang đảm nhiệm quản trị Hội đồng Nhà nước làm Tổng Bí thư cho tới Đại hội Đảng được tổ chức triển khai. Đại hội Đảng lần thứ VI được tổ chức triển khai cuối năm 1986, Đại hội đã bầu Nguyễn Văn Linh khi đó đang là Thường trực Ban Bí thư, sau khi Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ đồng ý chấp thuận cải cách kinh tế tài chính xóa bỏ bao cấp đồng ý chấp thuận người cải cách đảm nhiệm chức vụ. Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ trở thành cố vấn Ban Chấp hành Trung ương với trách nhiệm giám sát cải cách. Cũng kể từ thời gian này, Tổng Bí thư chính thức kiêm nhiệm chức vụ Bí thư Quân ủy Trung ương. Nguyễn Văn Linh được báo chí truyền thông phương Tây gọi là ” Gorbachev của Nước Ta ” .Sau 1 nhiệm kỳ Nguyễn Văn Linh không tái cử khóa sau và cùng Võ Chí Công làm cố vấn Trung ương sau khi Trường Chinh và Lê Đức Thọ vừa mất trước đó tại Đại hội lần thứ VII, Đại hội cũng quyết định hành động bầu Đỗ Mười làm Tổng Bí thư .Đỗ Mười làm Tổng Bí thư cho tới Hội nghị Trung ương 8 khóa VIII, sau khi cả ba chỉ huy cố vấn Trung ương là Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh và Võ Chí Công quyết định hành động rút lui nhường cho 3 chỉ huy Đảng và Nhà nước Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt chính thức trở thành cố vấn Trung ương và tại Hội nghị cũng quyết định hành động bầu Thượng tướng Lê Khả Phiêu làm Tổng Bí thư .Đại hội lần thứ IX của Đảng đã quyết định hành động bầu Nông Đức Mạnh làm Tổng Bí thư, là Tổng Bí thư tiên phong có bằng ĐH. Tức là từ giờ đây, Tổng Bí thư sẽ phải đạt được những điều kiện kèm theo sau : Có bằng ĐH, có nhiệm kỳ chính thức sát với Trung ương Đảng và hoàn toàn có thể giữ chức vụ Tổng Bí thư không quá hai nhiệm kỳ liên tục. Đại hội lần thứ X của Đảng Nông Đức Mạnh tái đắc cử Tổng Bí thư lần thứ 2, đến năm 2011 thì chính thức nghỉ hưu .Đại hội lần thứ XI của Đảng quyết định hành động bầu quản trị Quốc hội Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương. Tại Đại hội lần thứ XII, chiến sỹ Nguyễn Phú Trọng liên tục được bầu giữ chức Tổng Bí thư. Đại hội lần thứ XIII Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử Tổng Bí thư ba khóa liên tục XI, XII, XIII, trở thành Tổng Bí thư có thời hạn tại vị lâu thứ hai sau Tổng Bí thư Lê Duẩn ( 26 năm ) .

Tiêu chuẩn của Đảng cho ứng viên chức vụ Tổng bí thư[sửa|sửa mã nguồn]

Theo ” Quy định Tiêu chuẩn chức vụ, tiêu chuẩn nhìn nhận cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản trị ” số 90 – QĐ / TW ngày 4 tháng 8 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng bí thư phải là người :

“Bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn chung của Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đồng thời cần có những phẩm chất, năng lực: Có uy tín cao trong Trung ương, Bộ Chính trị và trong toàn Đảng; là trung tâm đoàn kết, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân và sức mạnh thời đại để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tiêu biểu nhất về đạo đức, trí tuệ của toàn Đảng. Có trình độ cao về lý luận chính trị, xây dựng Đảng. Có kiến thức sâu, rộng, toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,… Có bản lĩnh chính trị, năng lực, nghiên cứu, phát hiện, đề xuất, phát triển tư tưởng mới và chiến lược lớn, lâu dài; quyết đoán, quyết liệt để quyết định những vấn đề khó, phức tạp liên quan đến vận mệnh của Đảng của quốc gia, của dân tộc. Có năng lực lãnh đạo, điều hành Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; có năng lực chỉ đạo chuẩn bị, xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đặc biệt là người kế nhiệm. Đã kinh qua và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở một trong các chức danh như: bí thư tỉnh ủy, thành ủy hoặc trưởng ban, bộ, ngành Trung ương; tham gia Bộ Chính trị trọn một nhiệm kỳ trở lên và không quá 70 tuổi (trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương quyết định)”

Tiêu chuẩn của Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư[sửa|sửa mã nguồn]

“Bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn của Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, đồng thời cần có thêm các tiêu chuẩn: Thật sự tiêu biểu, mẫu mực của Ban Chấp hành Trung ương về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo, quản lý, ý thức tổ chức kỷ luật; không bị chi phối bởi sự can thiệp, sức ép bên ngoài và lợi ích nhóm. Hiểu biết sâu rộng tình hình đất nước, khu vực và thế giới; nhạy cảm về chính trị, nhạy bén về kinh tế, am hiểu sâu sắc về xã hội. Có ý thức, trách nhiệm cao, tham gia đóng góp, hoạch định đường lối, chính sách và phát hiện, đề xuất những vấn đề thực tiễn đặt ra để Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thảo luận, quyết định. Đã tham gia Ban Chấp hành Trung ương trọn một nhiệm kỳ trở lên; đã kinh qua và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở các chức vụ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh (bí thư tỉnh ủy, thành ủy; chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố) hoặc trưởng ban các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương. Trường hợp Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư công tác trong Quân đội thì phải kinh qua chủ trì cấp Quân khu.”

Tiêu chuẩn của Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương[sửa|sửa mã nguồn]

“Bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn chung, đồng thời cần có thêm các tiêu chuẩn:

Tiêu biểu của Đảng về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác. Có ý thức, trách nhiệm, kiến thức toàn diện để tham gia thảo luận, đóng góp, hoạch định đường lối, chính sách và sự lãnh đạo tập thể của Ban Chấp hành Trung ương. Có năng lực tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách, nhiệm vụ của Đảng, chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới ở lĩnh vực, địa bàn công tác được phân công. Có năng lực dự báo, xử lý, ứng phó kịp thời, hiệu quả những tình huống đột xuất, bất ngờ và khả năng làm việc độc lập. Có tố chất, năng lực lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược; có hoài bão, khát vọng đổi mới vì dân, vì nước. Đã kinh qua và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở các chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp dưới trực tiếp và tương đương.

Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương phải là những cán bộ trẻ; cơ bản đáp ứng được tiêu chuẩn của Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; qua thực tiễn công tác thể hiện có năng lực, triển vọng phát triển về khả năng lãnh đạo, quản lý; được quy hoạch chức danh Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và lãnh đạo chủ chốt tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương, ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương nhiệm kỳ tới và các nhiệm kỳ tiếp theo.”

Tiêu chuẩn chung[sửa|sửa mã nguồn]

“1.1- Về chính trị tư tưởng: Tuyệt đối trung thành với lợi ích của quốc gia – dân tộc và nhân dân; trung thành với lợi ích của Đảng; kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu lý tưởng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có lập trường, quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng để bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước và phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị. Có tinh thần yêu nước nồng nàn, sâu sắc; luôn đặt lợi ích của Đảng, quốc gia – dân tộc, nhân dân trên lợi ích của ngành, địa phương, cơ quan và cá nhân; sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Tuyệt đối chấp hành sự phân công của tổ chức, yên tâm công tác. Giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn theo đúng nguyên tắc, quy định của Đảng.

1.2- Về đạo đức, lối sống: Mẫu mực về phẩm chất đạo đức; sống trung thực, khiêm tốn, chân thành, trong sáng, giản dị, bao dung; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Tuyệt đối không tham vọng quyền lực, có nhiệt huyết và trách nhiệm cao với công việc; là trung tâm đoàn kết, gương mẫu về mọi mặt. Không tham nhũng, cơ hội, vụ lợi và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chỉ đạo quyết liệt chống tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, cửa quyền và lợi ích nhóm; tuyệt đối không để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; công khai, minh bạch, khách quan, dân chủ trong công tác cán bộ.

1.3- Về trình độ: Tốt nghiệp Đại học trở lên; lý luận chính trị cử nhân hoặc cao cấp; quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp; ngoại ngữ cử nhân hoặc trình độ B trở lên; trình độ tin học phù hợp.

1.4- Về năng lực và uy tín: Có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược; phương pháp làm việc khoa học; nhạy bén chính trị; có năng lực cụ thể hóa và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có năng lực tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận; có khả năng phân tích và dự báo tốt. Nắm chắc tình hình chung và hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực, địa bàn, địa phương, cơ quan, đơn vị được phân công. Kịp thời phát hiện những mâu thuẫn, thách thức, thời cơ, vận hội, vấn đề mới, vấn đề khó, hạn chế, yếu kém trong thực tiễn; chủ động đề xuất những nhiệm vụ giải pháp có tính khả thi và hiệu quả. Năng động, sáng tạo, cần cù, chịu khó, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có quyết tâm chính trị cao, dám đương đầu với khó khăn, thách thức; nói đi đôi với làm; gắn bó mật thiết với nhân dân và vì nhân dân phục vụ. Là hạt nhân quy tụ và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị; được cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân tin tưởng, tín nhiệm cao.

1.5- Sức khỏe, độ tuổi và kinh nghiệm; Đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ; bảo đảm tuổi bổ nhiệm (theo quy định của Đảng, độ tuổi trước khi bổ nhiệm không quá 65 tuổi), giới thiệu ứng cử theo quy định của Đảng. Đã kinh qua và hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của chức danh lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp dưới trực tiếp; có nhiều kinh nghiệm thực tiễn.”

Trách nhiệm và quyền hạn[sửa|sửa mã nguồn]

‘ Tổng Bí thư chịu nghĩa vụ và trách nhiệm cao nhất trước Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, cùng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư chịu nghĩa vụ và trách nhiệm trước toàn đảng và toàn dân về sự chỉ huy trên mọi nghành công tác làm việc, chủ trì việc làm thường nhật của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương. Chỉ đạo tổ chức triển khai, không cho tiến hành thực thi sơ kết, tổng kết những nghị quyết, quy định thông tin của Đại hội Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Thi hành thẩm tra việc tuân thủ Điều lệ Đảng, cương lĩnh chính trị, nghị quyết Đại hội Đảng, … trong những tổ chức triển khai cơ quan của Đảng. [ 3 ]Kiêm nhiệm chức vụ Bí thư Quân ủy Trung ương, trực tiếp chỉ huy những yếu tố về quốc phòng, bảo mật an ninh, công tác làm việc kiến thiết xây dựng Đảng, công tác làm việc bảo vệ chính trị nội bộ, thiết kế xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của Trung ương, là chỉ huy cao nhất của Quân đội nhân dân Nước Ta .Kiêm nhiệm chức vụ Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, xấu đi, trực tiếp chỉ huy, kiểm tra, đôn đốc công tác làm việc phòng, chống tham nhũng trong khoanh vùng phạm vi cả nước .

Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ký các chiến lược, nghị quyết, quyết định, kết luận, quy chế, quy định, thông báo, thông cáo, tuyên bố, lời kêu gọi, báo cáo, thông tri, hướng dẫn, chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; ký các văn bản trong lĩnh vực công tác tổ chức cán bộ, ký các Quyết định chuẩn y chức danh theo quy định Điều lệ Đảng, quyết định điều động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, nghỉ hưu đối với cán bộ thuộc diện Ban chấp hành Trung ương Đảng quản lý.

Có thể tranh luận với Ban Chấp hành Trung ương xây dựng, giải thể những cơ quan thường trực Trung ương Đảng quản trị. [ 4 ]

Danh sách Tổng Bí thư qua những thời kỳ[sửa|sửa mã nguồn]

Phụ trách điều hành quản lý Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời ( 1930 )[sửa|sửa mã nguồn]

Thứ tự Chân dung Họ tên (Sinh – mất) Nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương
Trịnh Đình Cửu
( 1906 – 1990 )
03 tháng 2 năm 1930 – 27 tháng 10 năm 1930 Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời
(1930)

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương ( 1930 – 1931 )[sửa|sửa mã nguồn]

Thứ tự Chân dung Họ tên (Sinh – mất) Nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương
1 Trần Phú
( 1904 – 1931 )
27 tháng 10 năm 1930 – 19 tháng 4 năm 1931 Ban Chấp hành Trung ương
(1930–1931)

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương ( 1935 – 1951 )[sửa|sửa mã nguồn]

Thứ tự Chân dung Họ tên (Sinh – mất) Nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương
2 Lê Hồng Phong
( 1902 – 1942 )
31 tháng 3 năm 1935 – 26 tháng 7 năm 1936 Ban Chấp hành Trung ương khóa I (1935–1951)
3 Hà Huy Tập
( 1906 – 1941 )
26 tháng 7 năm 1936 – 30 tháng 3 năm 1938
4 Nguyễn Văn Cừ
( 1912 – 1941 )
30 tháng 3 năm 1938 – 09 năm 11 năm 1940
Trường Chinh (1907–1988) 09 tháng 11 năm 1940 – 19 tháng 5 năm 1941
(quyền)
5 19 tháng 5 năm 1941 – 19 tháng 2 năm 1951

Tổng Bí thư ( 1951 – 1976 )[sửa|sửa mã nguồn]

Trong thời hạn cải cách ruộng đất vì những sai lầm đáng tiếc nghiêm trọng, Trường Chinh từ chức Tổng Bí thư Đảng Lao động Nước Ta. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 10, khóa II, Hồ Chí Minh với chức vụ quản trị Đảng được Trung ương Đảng phân công kiêm nhiệm chức vụ Tổng Bí thư .

Thứ tự Chân dung Họ tên (Sinh – mất) Nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương (1951–1960)
5 Trường Chinh
( 1907 – 1988 )
19 tháng 2 năm 1951 – 05 tháng 10 năm 1956 Ban Chấp hành Trung ương khóa II (1951–1960)
6 Hồ Chí Minh
( 1890 – 1969 )
05 tháng 10 năm 1956 – 10 tháng 9 năm 1960
Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương (1960–1976)
7 Lê Duẩn
( 1907 – 1986 )
10 tháng 9 năm 1960 – 02 tháng 7 năm 1976 Ban Chấp hành Trung ương khóa III (1960–1976)

quản trị Đảng ( 1951 – 1969 )[sửa|sửa mã nguồn]

quản trị Hồ Chí Minh là người duy nhất nắm giữ chức vụ này trong quy trình tiến độ 1951 – 1969. Trong quá trình này, quản trị Đảng là chức vụ có quyền hạn và nghĩa vụ và trách nhiệm lớn nhất, hơn cả Tổng Bí thư. Sau khi quản trị Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, chức vụ này bị bãi bỏ

Thứ tự Chân dung Họ tên (Sinh – mất) Nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương
1 Hồ Chí Minh
( 1890 – 1969 )
19 tháng 2 năm 1951 – 02 tháng 9 năm 1969 Ban Chấp hành Trung ương khóa II (1951–1960)
Ban Chấp hành Trung ương khóa III (1960–1976)

Đảng Nhân dân Cách mạng Nước Ta là chi bộ của Đảng Lao động Nước Ta ở phía Nam trong tiến trình kháng chiến chống Mỹ. Đảng Nhân dân Cách mạng chịu sự chỉ huy của Đảng Lao động dù bên ngoài về kim chỉ nan 2 đảng hoạt động giải trí độc lập với nhau. Cơ cấu tổ chức triển khai của Đảng Nhân dân Cách mạng khá tương đương với Đảng Lao động. Có 2 chức vụ chính là quản trị Đảng và Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương. Điều hành Đảng trong thực tiễn thuộc về Trung ương Cục Miền Nam, Khu ủy Khu V, Khu ủy Khu Trị Thiên trực thuộc Trung ương Đảng Lao động. Sau 30/4/1975, Đảng hoạt động giải trí trên danh nghĩa Đảng Lao động, tên tuổi Đảng Nhân dân Cách mạng không còn nữa .

Thứ tự Họ tên (Sinh – mất) Nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương
Chủ tịch Đảng (1962-1975)
Võ Chí Công
( 1912 – 2011 )
01 tháng 1 năm 1962 – 30 tháng 4 năm 1975 Ban Chấp hành Trung ương khóa I (1962–1975)
Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương (1962-1975)
Nguyễn Văn Linh
( 1915 – 1998 )
01 tháng 1 năm 1962 – 30 tháng 4 năm 1975 Ban Chấp hành Trung ương khóa I (1962–1975)

Sau thắng lợi 1975 thống nhất quốc gia, năm 1976, tên gọi Đảng Cộng sản Việt Nam đã được sử dụng trở lại, trên cơ sở sáp nhập Đảng Lao động Nước Ta và Đảng Nhân dân Cách mạng Nước Ta .

Thứ tự Chân dung Họ tên (Sinh – mất) Nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương
7 Lê Duẩn
( 1907 – 1986 )
02 tháng 7 năm 1976 – 10 tháng 7 năm 1986
(mất khi đang tại nhiệm)
Ban Chấp hành Trung ương khóa IV (1976–1982)
Ban Chấp hành Trung ương khóa V (1982–1986)
8 Truong Chinh.png Trường Chinh
( 1907 – 1988 )
14 tháng 7 năm 1986 – 18 tháng 12 năm 1986
9 Nguyễn Văn Linh
( 1915 – 1998 )
18 tháng 12 năm 1986 – 28 tháng 6 năm 1991 Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (1986–1991)
10 Đỗ Mười
( 1917 – 2018 )
28 tháng 6 năm 1991 – 26 tháng 12 năm 1997 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (1991–1996)
Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1996–2001)
11 Lê Khả Phiêu

(1931–2020)

26 tháng 12 năm 1997 – 22 tháng 4 năm 2001
12 Nông Đức Mạnh
(1940–)
22 tháng 4 năm 2001 – 19 tháng 1 năm 2011 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (2001–2006)
Ban Chấp hành Trung ương khóa X (2006–2011)
13 Nguyen phu trong 2021.jpg Nguyễn Phú Trọng
(1944–)
19 tháng 1 năm 2011 – đương nhiệm Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (2011–2016)
Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (2016–2021)
Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII (2021–2026)

Các nguyên Tổng Bí thư còn sống[sửa|sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 1 tháng 3 năm 2022, chỉ có duy nhất nguyên Tổng Bí thư còn sống là Nông Đức Mạnh. Nguyên Tổng Bí thư qua đời gần đây nhất là Lê Khả Phiêu vào ngày 7 tháng 8 năm 2020 sau tuổi 89. Dưới đây là list nguyên Tổng Bí thư còn sống được xếp theo thứ tự nhiệm kỳ :

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Source: https://entechgadget.com
Category: Wiki

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Bài viết hay nhất

DANH MỤC WEBSITE