Thứ Tư, Tháng Bảy 6, 2022
HomeWikiTứ niệm xứ – Wikipedia tiếng Việt

Tứ niệm xứ – Wikipedia tiếng Việt

Tứ Niệm Xứ (Pali; Skt: smṛtyupasthāna) là một thuật ngữ Phật giáo quan trọng, có nghĩa là sự thiết lập, xây dựng chánh niệm tỉnh giác hay chánh niệm hiện tiền, hoặc cũng có thể hiểu là các nền tảng của chánh niệm. Phương pháp này nhằm giúp cho hành giả đạt đến sự giác ngộ viên mãn và tâm tỉnh thức. Trong truyền thống Phật giáo, đặc biệt là trong Phật giáo Nguyên Thủy (Thevarada), việc thực hành thiền quán tập trung 4 đối tượng: Thân (sa, pi. kāya) hay còn hiểu là cơ thể, Thọ (sa, pi. vedanā) hay còn hiểu là cảm giác, Tâm (sa, pi. citta) và Pháp (sa, pi, sadhammās) tức là các nguyên tắc hay phạm trù chính trong giáo lý của Đức Phật; mà được cho là giúp loại bỏ năm triền cái và phát triển Thất Giác Chi.

Có lẽ, kinh Tứ Niệm Xứ ( Đại Niệm Xứ, Satipatthana ) là văn bản về thực hành thực tế Thiền có tác động ảnh hưởng nhất trong Phật giáo Thevarada văn minh, và những trào lưu Thiền Vipassana cũng dựa trên cơ sở lời dạy trong tầm cỡ này. Giáo lý về Tứ Niệm Xứ hoàn toàn có thể tìm thấy ở trong toàn bộ những truyền thống lịch sử Phật giáo, tuy nhiên Phật giáo Thevarada tân tiến và trào lưu Thiền Vipassana được biết đến thoáng rộng qua việc thôi thúc việc thực hành thực tế Tứ Niệm Xứ để tăng trưởng Chính niệm tỉnh giác mà trải qua đó hành giả sẽ đạt được cái nhìn thâm thúy về vô thường và chứng được Sơ quả trong Tứ Thánh Quả .Đây là một trong những giải pháp tu tập quan trọng mà Đức Phật đã nhấn mạnh vấn đề, được biểu lộ rất rõ qua Kinh Trường Bộ, Kinh Trung Bộ và Kinh Tương Ưng Bộ. [ 1 ]

Phương pháp quán chiếu này được nói rõ trong Kinh Đại Niệm Xứ (pi. Mahàsatipatthana sutta)[2][3] và Đức Phật từng nói rằng, pháp này có thể đưa đến Niết-bàn.[4]

Này những Tỷ kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh lý, chứng ngộ Niết bàn. Đó là Bốn niệm xứ. Thế nào là bốn ? Này những Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để khắc chế tham ưu ở đời ; sống quán thọ trên những thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để khắc chế tham ưu ở đời ; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để tương khắc và chế ngự tham ưu ở đời ; sống quán pháp trên những pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để khắc chế tham ưu ở đời .Đức Phật, từ kinh Trường Bộ: Kinh số 22: Kinh Đại Niệm Xứ[5]

Ngày nay tại phương Tây, phép quán bốn niệm xứ được phổ biến rộng, trong đó hành giả ngồi (Toạ thiền) hay áp dụng phép quán này trong các hoạt động hàng ngày.[1][6]

  • Quán Thân bao gồm sự tỉnh giác trong hơi thở, thở ra, thở vào [6](pi. ānāpānasati), cũng như tỉnh giác trong bốn dạng cơ bản của thân (đi, đứng, nằm, ngồi). Tỉnh giác trong mọi hoạt động của thân thể, quán sát 32 phần thân thể, quán sát yếu tố tạo thành thân cũng như quán tử thi.
  • Quán Thọ là nhận biết rõ những cảm giác, cảm xúc dấy lên trong tâm, biết chúng là dễ chịu (lạc thọ), khó chịu (khổ thọ) hay trung tính (bất khổ bất lạc thọ), nhận biết chúng là thế gian hay xuất thế, biết tính vô thường của chúng.
  • Quán Tâm là chú ý đến các tâm pháp (ý nghĩ) đang hiện hành, biết nó là tham hay vô tham, sân hay vô sân, si hay vô si (Tâm sở), biết rõ tâm đang thâu nhiếp hay tán loạn, tâm quảng đại hay không quảng đại, tâm hữu hạn hay không hữu hạn, tâm vô thượng hay không vô thượng, tâm định hay không định, tâm giải thoát hay không giải thoát.
  • Quán Pháp là biết rõ mọi pháp đều phụ thuộc lẫn nhau, đều Vô ngã, biết rõ Năm Triền Cái có hiện hành hay không, biết rõ con người chỉ là Ngũ uẩn đang hoạt động, biết rõ gốc hiện hành của các pháp và hiểu rõ Tứ diệu đế.

Trong Đại thừa, những phép niệm xứ được hiểu là quán thân, thụ, tâm, pháp ; bốn thứ đều là dạng của tính Không .

Một số trích đoạn từ tầm cỡ hệ Pali[sửa|sửa mã nguồn]

Dưới đây là một vài bản trích dẫn từ nhiều Kinh khác nhau trong Kinh tạng hệ Pali, nổi bật là Kinh Trung Bộ và Kinh Tương Ưng Bộ .

  • Trích từ Kinh Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, [47] Chương 3: Tương Ưng Niệm Xứ (a) [4]

I. Phẩm Ambapàli

1 ) Như vầy tôi nghe .Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, tại rừng Ambapàli .2 ) Tại đấy, Thế Tôn gọi những Tỷ-kheo : ” Này những Tỷ-kheo “. ” Bạch Thế Tôn “. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau :3 ) — Có con đường độc nhất này, này những Tỷ-kheo, khiến cho những loài hữu tình được thanh tịnh, vượt qua được sầu bi, chấm hết khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn ?4 ) — Ở đây, này những Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời … trú, quán thọ trên những cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm … trú, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác … trú, quán pháp trên những pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời .5 ) Có con đường độc nhất này, này những Tỷ-kheo, khiến cho những loài hữu tình được thanh tịnh, vượt qua được sầu bi, chấm hết khổ ưu, chứng đạt chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Con đường ấy tức là bốn niệm xứ .6 ) Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn nói .

  • Trích từ Kinh Trung Bộ, Tập I- Kinh số 10 – Kinh Niệm Xứ (a) [2]

(Quán thọ)

Này những Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán thọ trên những thọ ?

Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo

khi cảm xúc lạc thọ, tuệ tri : ” Tôi cảm xúc lạc thọ ” ; khi cảm xúc khổ thọ, tuệ tri : ” Tôi cảm xúc khổ thọ ” ; khi cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, tuệ tri : ” Tôi cảm xúc bất khổ bất lạc thọ ” .Hay khi cảm xúc lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri : ” Tôi cảm xúc lạc thọ thuộc vật chất ” ; hay khi cảm xúc lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri : ” Tôi cảm xúc lạc thọ không thuộc vật chất ” .Hay khi cảm xúc khổ thọ thuộc vật chất, tuệ tri : ” Tôi cảm xúc khổ thọ thuộc vật chất ” ; hay khi cảm xúc khổ thọ không thuộc vật chất, tuệ tri : ” Tôi cảm xúc khổ thọ không thuộc vật chất ” .Hay khi cảm xúc bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri : ” Tôi cảm xúc bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất ” ; hay khi cảm xúc bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri : ” Tôi cảm xúc bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất ” .Như vậy, vị ấy sống quán thọ trên những nội thọ ; hay sống quán thọ trên những ngoại thọ ; hay sống quán thọ trên những nội thọ, ngoại thọ. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên những thọ, hay sống quán tánh diệt tận trên những thọ ; hay sống quán tánh sanh diệt trên những thọ. ” Có thọ đây “, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với kỳ vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không phụ thuộc, không chấp trước một vật gì trên đời. Này những Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống quán thọ trên những thọ .

Tóm tắt về những pháp được quán trong Tứ Niệm Xứ[sửa|sửa mã nguồn]

Dưới đây là những bảng tóm tắt về tổng thể những hiện tượng kỳ lạ và cách tuệ tri theo từng hiện tượng kỳ lạ được ghi chép trong tầm cỡ Pali và được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Tiếng Việt .

  • Trích từ trong Kinh Trường Bộ: Tập II- Kinh số 22 – Kinh Đại Niệm Xứ.[5]
  • Trích từ trong Maha-satipatthana Sutta: The Great Frames of Reference bởi Tỷ-Kheo Thanissaro bản Tiếng Anh.[3]
1. Quán thân
Hiện tượng Tuệ tri (biết rằng)
1. Thở vô dài Tôi thở vô dài
2. Thở ra dài Tôi thở ra dài
3. Thở vô ngắn Tôi thở vô ngắn
4. Thở ra ngắn Tôi thở ra ngắn
5. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô” – vị ấy tập
6. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra” – vị ấy tập
7. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô” – vị ấy tập
8. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra” – vị ấy tập
9. Đi Tôi đi
10. Đứng Tôi đứng
11. Ngồi Tôi ngồi
12. Nằm Tôi nằm
13. Khi bước tới, bước lui, biết rõ việc mình đang làm
14. Khi ngó tới, ngó lui, biết rõ việc mình đang làm
15. Khi co tay khi duỗi tay biết rõ việc mình đang làm
16. Khi mang áo Sanghàti (Tăng-già-lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm
17. Khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm
18. Khi đi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm
19. Quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu
20. Quán sát thân này về vị trí các giới và sự sắp đặt các giới (giới ở đây nghĩa là các tính chất/ các yếu tố) Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại. (Địa đại: tính chất của đất; Thủy đại: tính chất của nước; Hỏa đại: tính chất của lửa; Phong đại: tính chất của gió.)
21. Như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy
22. Như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn; hay bị các loài chó ăn; hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy
23. Như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa;

  • với các xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cốt lại;
  • với các xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại;
  • với các xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại;
  • chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia: ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu,…
Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy
24. Như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc… chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm… chỉ còn là xương thối trở thành bột Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy
2. Quán thọ
Hiện tượng Tuệ tri (biết rằng)
1. Khi cảm giác lạc thọ (dễ chịu) Tôi cảm giác lạc thọ
2. Khi cảm giác khổ thọ (khó chịu) Tôi cảm giác khổ thọ
3. Khi cảm giác bất khổ, bất lạc thọ (trung tính) Tôi cảm giác bất khổ – bất lạc thọ
4. Khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất
5. Khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất Tôi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất
6. Khi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất Tôi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất
7. Khi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất Tôi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất
8. Khi cảm giác bất khổ, bất lạc thọ thuộc vật chất Tôi cảm giác bất khổ, bất lạc thọ thuộc vật chất
9. Khi cảm giác bất khổ, bất lạc thọ không thuộc vật chất Tôi cảm giác bất khổ, bất lạc thọ không thuộc vật chất
3. Quán tâm
Hiện tượng Tuệ tri (biết rằng)
1. Với tâm có tham Tâm có tham
2. Với tâm không tham Tâm không tham
3. Với tâm có sân Tâm có sân
4. Với tâm không sân Tâm không sân
5. Với tâm có si Tâm có si
6. Với tâm không si Tâm không si
7. Với tâm thâu nhiếp Tâm được thâu nhiếp
8. Với tâm tán loạn Tâm bị tán loạn
9. Với tâm quảng đại Tâm được quảng đại
10. Với tâm không quảng đại Tâm không được quảng đại
11. Với tâm hữu hạn Tâm hữu hạn
12. Với tâm vô thượng Tâm vô thượng
13. Với tâm có định Tâm có định
14. Với tâm không định Tâm không định
15. Với tâm giải thoát Tâm có giải thoát
16. Với tâm không giải thoát Tâm không giải thoát
4. Quán pháp
Quán pháp đối với Hiện tượng Tuệ tri (biết rằng)
1. Năm triền cái Tham dục (tính dục và tình yêu nam nữ) 1. Nội tâm có tham dục Nội tâm tôi có tham dục
2. Nội tâm không có tham dục Nội tâm tôi không có tham dục
3. Với tham dục chưa sanh nay sanh khởi – vị ấy tuệ tri như vậy
4. Với tham dục đã sanh nay được đoạn diệt – vị ấy tuệ tri như vậy
5. Với tham dục đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa – vị ấy tuệ tri như vậy
Sân hận (giận dữ, hận thù) 1. Nội tâm có sân hận Nội tâm tôi có sân hận
2. Nội tâm không có sân hận Nội tâm tôi không có sân hận
3. Với sân hận chưa sanh, nay sanh khởi – vị ấy tuệ tri như vậy
4. Với sân hận đã sanh, nay được đoạn diệt – vị ấy tuệ tri như vậy
5. Với sân hận đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa – vị ấy tuệ tri như vậy
Hôn trầm (bần thần, mệt mỏi)
Thụy miên ( buồn ngủ, ngủ gật )
1. Nội tâm có hôn trầm, thụy miên Nội tâm tôi có hôn trầm, thụy miên
2. Nội tâm không có hôn trầm, thụy miên Nội tâm tôi không có hôn trầm, thụy miên
3. Với hôn trầm, thụy miên chưa sanh, nay sanh khởi – vị ấy tuệ tri như vậy
4. Với hôn trầm, thụy miên đã sanh, nay được đoạn diệt – vị ấy tuệ tri như vậy
5. Với hôn trầm, thụy miên đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa – vị ấy tuệ tri như vậy
Trạo hối – từ ghép của 2 từ:

  • Trạo cử (lăn xăn, dao động của thân)
  • Hối hận (nuối tiếc, dao động của tâm)
1. Nội tâm có trạo hối Nội tâm tôi có trạo hối
2. Nội tâm không có trạo hối Nội tâm tôi không có trạo hối
3. Với trạo hối chưa sanh, nay sanh khởi – vị ấy tuệ tri như vậy
4. Với trạo hối đã sanh, nay được đoạn diệt – vị ấy tuệ tri như vậy
5. Với trạo hối đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa – vị ấy tuệ tri như vậy
Hoài nghi (do dự, thiếu dứt khoát, chần chừ) 1. Nội tâm có nghi Nội tâm tôi có nghi
2. Nội tâm không có nghi Nội tâm không có nghi
3. Với nghi chưa sanh, nay sanh khởi – vị ấy tuệ tri như vậy
4. Với nghi đã sanh, nay được đoạn diệt – vị ấy tuệ tri như vậy
5. Với nghi đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa – vị ấy tuệ tri như vậy
2. Năm thủ uẩn 1. Đây là sắc, đây là sắc sanh, đây là sắc diệt – vị ấy tuệ tri như vậy
2. Đây là thọ, đây là thọ sanh, đây là thọ diệt – vị ấy tuệ tri như vậy
3. Đây là tưởng, đây là tưởng sanh, đây là tưởng diệt – vị ấy tuệ tri như vậy
4. Đây là hành, đây là hành sanh, đây là hành diệt – vị ấy tuệ tri như vậy
5. Đây là thức, đây là thức sanh, đây là thức diệt – vị ấy tuệ tri như vậy
3. Sáu nội ngoại xứ 1. Tuệ tri con mắt và tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi – vị ấy tuệ tri như vậy
2. Tuệ tri tai và tuệ tri những tiếng, ….3. Tuệ tri mũi và tuệ tri những hương, …4. Tuệ tri lưỡi và tuệ tri những vị, …5. Tuệ tri thân và tuệ tri những xúc, …6. Tuệ tri ý và tuệ tri những pháp, do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi – vị ấy tuệ tri như vậy

  • với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy;
  • và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy;
  • và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy
4. Bảy Giác chi Niệm Giác chi 1. Nội tâm có Niệm Giác chi Nội tâm tôi có Niệm Giác chi
2. Nội tâm không có Niệm Giác chi Nội tâm tôi không có Niệm Giác chi
3. Với Niệm Giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy
4. Với Niệm Giác chi đã sanh, nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy
Trạch pháp Giác chi (tương tự như Niệm Giác chi)
Tinh tấn Giác chi
Hỷ Giác chi
Khinh an Giác chi
Định Giác chi
Xả Giác chi
5. Bốn sự thật 1. Như thật tuệ tri: “Đây là khổ”
2. Như thật tuệ tri: “Đây là khổ tập”
3. Như thật tuệ tri: “Đây là khổ diệt”
4. Như thật tuệ tri: “Đây là con đường đưa đến khổ diệt”

Nguồn tìm hiểu thêm[sửa|sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Thiền Tứ Niệm Xứ, Thích Trí Siêu, [ 3 ] Tứ Niệm Xứ và Bát Nhã Tâm Kinh, [ 4 ] Tứ Niệm Xứ và Thiền Tông http://www.daophatngaynay.com/vn/phap-mon/thien-dinh/nguyen-thuy/10815-Thien-Tu-Niem-Xu.html
  2. ^ a b , Tập I- Kinh số 10 – Kinh Niệm Xứ (a) Trích từ Kinh Trung BộTập I – Kinh số 10 – Kinh Niệm Xứ ( a ) https://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung10.htm
  3. ^ a b Maha-satipatthana Sutta: The Great Frames of Reference bởi Tỷ-Kheo Thanissaro bản Tiếng Anh.

    bởi Tỷ-Kheo Thanissaro bản Tiếng Anh. https://www.accesstoinsight.org/tipitaka/dn/dn.22.0.than.html

  4. ^ a b Trích từ Kinh Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, [ 47 ] Chương 3 : Tương Ưng Niệm Xứ ( a ) https://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu5-47a.htm
  5. ^ a b Trích từ trong Kinh Trường Bộ : Tập II – Kinh số 22 – Kinh Đại Niệm Xứ https://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong22.htm
  6. ^ a b Tứ niệm xứ – con đường giác ngộ theo tầm cỡ Nikaya, Phần Nghiên Cứu của Thích Nữ Trí Liên https://phatgiao.org.vn/tu-niem-xu–con-duong-giac-ngo-theo-kinh-dien-nikaya-d34833.html
  • Kinh Trường Bộ (Digha Nikaya)- Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt- Tập II- Kinh số 22- Kinh Đại Niệm Xứ. Xem tại: https://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong22.htm
  • Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikaya)- Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt- Tập I- Kinh số 10- Kinh Niệm Xứ (a). Xem tại: https://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung10.htm
  • Kinh Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikaya)– Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt– Tập V- Thiên Đại Phẩm- Chương 3: Tương Ưng Niệm Xứ (a). Xem tại: https://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu5-47a.htm
  • Kinh Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikaya)– Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt– Tập V- Thiên Đại Phẩm- Chương 3: Tương Ưng Niệm Xứ (b). Xem tại: https://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu5-47b.htm

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

  • Kinh điển Pali bản dịch Việt [1]
  • Hướng dẫn đọc kinh điển Pali [2]

Source: https://entechgadget.com
Category: Wiki

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Bài viết hay nhất

DANH MỤC WEBSITE