Thứ Năm, Tháng Bảy 7, 2022
HomeWikiTứ thần túc trong Phật giáo là gì?

Tứ thần túc trong Phật giáo là gì?

Tứ thần túc là hành pháp thứ ba sau Tứ niệm trụ và Tứ chánh cần, thuộc bảy hành phẩm trong ba mươi bảy phẩm đạo. Hai hành phẩm đầu nghiêng hẳn về phần tăng trưởng trí tuệ hơn là định .Để cân đối hai mặt định tuệ, hành giả phải cần Tứ thần túc để nhiếp tâm. Thần ở đây chỉ cho cái đức linh diệu, còn túc là chỉ cho định, là nền tảng chỉ nơi lệ thuộc để phát sinh quả đức linh diệu. Đây là bốn pháp thiền định, là bốn thứ phương tiện đi lại giúp hành giả thành tựu những tam-ma-địa ( samadhi, chánh định ). Theo luận Câu xá 25 : “ Vì sao định gọi là thần túc ? Vì những công đức linh diệu thù thắng đều nương nơi bốn pháp này mà định được thành tựu ”. Tứ thần túc còn gọi là Tứ như ý túc, ở đây có nghĩa là mọi thành tựu được theo như sở nguyện của hành giả khi tu tập bốn pháp này. Tứ thần túc, Phạn ngữ gọi là catvāra-ṛddhipādāḥ, Pāli gọi là cattāro iddhi-pādā, là bốn pháp làm nền tảng, nơi phụ thuộc phát sinh ra những thứ công đức thiền định cho hành giả, và tác dụng của chúng theo như mong ước của người tu tập. Theo luận Trí độ 19 : “ Hỏi : Trong Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần đã có định, tại sao không gọi là như mong muốn túc ? Đáp : Chúng tuy có định, nhưng định lực rất yếu, còn trí tuệ tinh tấn lực thì nhiều, nên hành giả không được như ý nguyện. Bốn loại định đó là Dục làm chủ sẽ đắc định, Tinh tấn làm chủ sẽ đắc định, Tâm làm chủ sẽ đắc định, Tư duy làm chủ sẽ đắc định ”. Nhờ sức mạnh của bốn pháp này dẫn phát những loại thần dụng mà sản sinh ra tam-ma-địa ( chánh định ). Tứ thần túc còn gọi là Tứ như ý túc, ở đây có nghĩa là mọi thành tựu được theo như sở nguyện của hành giả khi tu tập bốn pháp này.

Tứ thần túc còn gọi là Tứ như ý túc, ở đây có nghĩa là mọi thành tựu được theo như sở nguyện của hành giả khi tu tập bốn pháp này.

Ý nghĩa của Tứ Chánh Cần

Bốn định ấy là : Dục thần túc ; Tinh tấn thần túc ; Tâm thần túc ; Quán thần túc.

Dục thần túc

Nói cho vừa đủ và đúng chuẩn là Dục tam-ma-địa đọan hành thành tựu thần túc ( Srt : chanda-samādhi-prahāṇa-saṃskāra-samannāgata-ṛddhi-pāda, Pāli : chanda-samādhi-padhāna-saṃkhāra-samannāgata-iddhi-pāda ). Thiền định phát khởi là nhờ sức mạnh của ý muốn tư tưởng mà đạt được thần thông. Dục ở đây chỉ cho mong ước, mong cầu một cách thiết tha, mong ước đạt được những gì đang ở ngoài tầm tay hành giả ; hay mong cầu những mong ước của tất cả chúng ta cho đến khi đạt được những sở nguyện đó mới thôi, theo nghĩa dục như mong muốn túc. Ở đây tất cả chúng ta cần phải phân biệt được những mong ước này theo khunh hướng nào ? Chúng câu hữu với giải thoát hay vô minh ? Tại sao Đức Đạo sư lại dạy cho tất cả chúng ta thực hành thực tế “ dục ”, theo giải pháp này, trong khi ở nơi khác Ngài dạy dục là pháp đứng vào hàng thứ nhất của căn bổn sinh tử mà hành giả phải tránh ? Rõ ràng ở đây, Đức Đạo sư đã đứng trên khunh hướng giải thoát để đưa hành giả đến Thánh đạo, và ở đây dục là con đường hướng thượng đưa tất cả chúng ta đi đến con đường giải thoát của những bậc Thánh, chứ không phải con đường đưa tất cả chúng ta đi vào sinh tử luân hồi. Vậy dục ( mong ước ) ở đây chúng câu hữu với giải thoát chứ không phải câu hữu với vô minh, hậu quả tất yếu của sinh tử luân hồi. Diệt dục ở đây tức là diệt dục vọng, diệt những mong muốn xấu xa thấp hèn, làm cho hành giả phải đọa vào các hàng súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ, chứ không có diệt luôn cả những dục nguyện, những mong ước hiền thiện tốt đẹp của hành giả.

Diệt dục ở đây tức là diệt dục vọng, diệt những mong muốn xấu xa thấp hèn, làm cho hành giả phải đọa vào các hàng súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ, chứ không có diệt luôn cả những dục nguyện, những mong ước hiền thiện tốt đẹp của hành giả.

Tứ niệm xứ – con đường giác ngộ theo tầm cỡ Nikaya Qua những phân biệt trên, cho tất cả chúng ta nhận thức được một cách rõ ràng rằng đặc thù của dục ở đây, chúng mang mầm móng hướng thượng giải thoát ; thế cho nên cho nên vì thế chúng đi ngược lại với những thứ mong ước dục vọng thấp hèn để thỏa mãn nhu cầu thú tính, những tham vọng trói buộc trần gian. Đó là thứ dục của tội lỗi, tất cả chúng ta nên diệt trừ tận căn nguyên. Vì vậy những mong ước hướng thượng, giải thoát, an vui, như mong ước sống một đời sống tốt đẹp, thanh cao, hay mong ước đạt được giải thoát, ra ngoài biển khổ sanh tử, thì đó là những thứ mong ước hợp tình hài hòa và hợp lý. Đức Đạo sư luôn luôn khuyến khích tất cả chúng ta nên nỗ lực thực hành thực tế những pháp như vậy, như dục thần túc này ví dụ điển hình. Hành giả mong ước thành tựu pháp thiền định mà mình đang tu thì trước hết phải thiết lập dục nguyện và nỗ lực thực hành thực tế mong đạt đến cứu cánh mà mình đã chọn như chứng đạt những Thánh quả. Thứ mong ước này rất thiết yếu cho hành giả trong lúc thực hành thực tế ; nếu không mong có chúng một cách thiết tha, mãnh liệt thì tất cả chúng ta khó mà đạt được cứu cánh giải thoát. Thật ra, bản thân của dục tự nó không tốt, không xấu, không thiện, không ác, không đúng không sai, nhưng chúng sẽ trở nên tốt xấu, thiện ác, đúng sai khi con người áp đặt lên nó những cái đó rồi hợp thức hóa cho nó những cái mà chính nó không có, để rồi từ đó dục trở nên hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc thiện, hoặc ác, hoặc đúng hoặc sai … Ở đây, Đức Đạo sư không khi nào chủ trương diệt dục, mà Ngài chủ trương hành giả muốn giải thoát thì trừ bỏ dục vọng câu hữu với vô minh, vì dục câu hữu với vô minh là dục xấu, dục, bất thiện, dục sai, chúng sẽ đưa hành giả đến bến bờ sinh tử luân hồi khổ đau. Còn ngược lại, nếu muốn giải thoát tổng thể những khổ đau của sinh tử luân hồi thì phải quy đổi những thứ dục câu hữu với vô minh thành dục câu hữu với giải thoát. Hành giả mong muốn thành tựu pháp thiền định mà mình đang tu thì trước hết phải thiết lập dục nguyện và nỗ lực thực hành mong đạt đến cứu cánh mà mình đã chọn như chứng đạt các Thánh quả.

Hành giả mong muốn thành tựu pháp thiền định mà mình đang tu thì trước hết phải thiết lập dục nguyện và nỗ lực thực hành mong đạt đến cứu cánh mà mình đã chọn như chứng đạt các Thánh quả.

Con đường tăng trưởng tâm linh qua pháp môn tu tập tứ niệm xứ Vậy diệt dục ở đây tức là diệt dục vọng, diệt những mong ước xấu xa thấp hèn, làm cho hành giả phải đọa vào những hàng súc sanh, âm ti, ngạ quỷ, chứ không có diệt luôn cả những dục nguyện, những mong ước hiền thiện tốt đẹp của hành giả. Như vậy chí nguyện, dục nguyện của hành giả về ý muốn tư tưởng để phát khởi thiền định đạt được thần thông là mong ước hướng thượng giải thoát hành giả cần phải nuôi dưỡng và nỗ lực thực hành thực tế cho đến khi nào đạt được như những mong ước của mình mới được. Đây là pháp tu thứ nhất của tứ thần túc.

Tinh tấn thần túc

Nói cho không thiếu và đúng mực là Tinh tấn tam-ma-địa đoạn hành thành tựu thần túc ( Srt : virya-samādhi-prahāṇa-saṃskāra-samannāgata-ṛddhi-pāda, Pāli : virya-samādhi-padhāna-saṃkhāra-samannāgata-iddhi-pāda ). Thiền định phát khởi là nhờ vào sức tinh tấn nỗ lực tu tập của hành giả. Khi hành giả đã có mong cầu mong ước rồi mà không có sự tinh tấn nỗ lực để thực hành thực tế tu tập thì mong ước đó cũng thành vô dụng, chỉ có trên kim chỉ nan thôi, mà trong thực tiễn thì là số lượng không. Do đó tinh tấn nỗ lực là điều kiện kèm theo tất yếu để hoàn thành xong bổn nguyện của hành giả. Siêng năng thực hành thực tế tu tập là tác nhân thứ hai sau mong cầu mong ước để cho hành giả hoàn thành xong tác dụng tốt đẹp sau này. Sự mong ước của tất cả chúng ta dù tốt đẹp đến đâu đi nữa mà cá thể mỗi người không tự nỗ lực siêng năng, bền lòng vững chí tin yêu vào pháp tu của mình để thực tập cho mình thì mặc dầu tất cả chúng ta có hàng trăm mong ước mong cầu tốt đẹp đi nữa, mà không tinh cần tinh tấn nỗ lực thực hành thực tế tu tập thì những mong ước đó muôn đời cũng chỉ là mong ước suông, cũng chỉ là những mong ước trên triết lý mà thôi. Ở đây, tinh tấn siêng năng nỗ lực không phải chỉ là sự nhiệt huyết, bồng bột trong nhất thời, như ngọn lửa rơm cháy bùng lên rồi sau đó tắt liền, mà sự tinh tấn nỗ lực ở đây phải miên mật, khi nào cũng thực tập không khi nào gián đoạn. Trong kinh Di giáo Đức Đạo sư có dạy : “ … Như người dùi cây lấy lửa, cây chưa nóng đã thôi, tuy muốn được lửa, nhưng khó thể được ”. Sự siêng năng tinh tấn tu tập của hành giả ở đây cũng vậy, không nên như người dùi cây tìm lửa kia. Muốn đạt được thiền định thì khi nào cũng phải siêng năng tinh tấn và nỗ lực liên tục .

Dục thần túc, ở đây dục đối với vị của gia hạnh mà khởi lên định này, vì nương vào sức mạnh của dục, nên định dẫn phát mà khởi lên.

Dục thần túc, ở đây dục đối với vị của gia hạnh mà khởi lên định này, vì nương vào sức mạnh của dục, nên định dẫn phát mà khởi lên.

Tâm thần túc

Nói cho không thiếu và đúng chuẩn là tâm tam-ma-địa đoạn hành thành tựu thần túc ( Srt : citta-samādhi-prahāṇa-saṃskāra-samannāgata-ṛddhi-pāda, Pāli : citta-samādhi-padhāna-saṃkhāra-samannāgata-iddhi-pāda ) – thiền định phát sinh nhờ sức mạnh của tâm niệm. Một lòng chuyên nhất trụ nương vào sức mạnh của tâm, nên định dẫn phát mà khởi lên. Như mặt trời tia sáng chiếu khắp mọi nơi, ánh sáng của nó bị yếu dần đi và trở nên hòa dịu không thiêu đốt vạn vật được. Nhưng nếu tia sáng mặt trời kia mà qua thấu kính quy tụ thì nó hoàn toàn có thể thành lửa thiêu đốt bất kỳ thứ vật chất nào trên trần gian này. Hay như dòng sông lớn, nếu bị chia làm nhiều giòng chảy nhỏ thì sức chảy của nó bị yếu đi. Trái lại, chỉ một giòng suối nhỏ, không chảy nhiều đường, cũng đủ sức xuyên thủng đá tảng. Hành giả tu tập cũng lại như vậy, khi tâm mình định nhất vào một đối tượng người dùng nào đó một cách chuyên nhất thì vọng tâm sẽ không khởi lên được và không bị tán loạn, khi đó không việc gì không thành tựu. Phật dạy trong kinh Di giáo : “ Chú tâm nhất xứ vô sự bất biện ”. Nghĩa là : Chú tâm vào một chỗ thì không việc gì không thành.

Quán thần túc

Nói cho khá đầy đủ và đúng chuẩn là quán tam-ma-địa đoạn hành thành tựu thần túc ( Srt : vīmāṃsā-samādhi-prahāṇa-saṃskāra-samannāgata-ṛddhi-pāda, Pāli : vīmaṃsā-samādhi-padhāna-saṃkhāra-samannāgata-iddhi-pāda ) – thiền định phát sinh nhờ sức mạnh tư duy quán sát Phật lý. Hành giả nương vào sức mạnh tư duy quán sát nên định dẫn phát mà sinh khởi. Quán là dùng trí tuệ quán sát tư duy lý pháp mình đang tu, và nhờ đó mà định phát sinh. Mỗi khi định đã có thì định tuệ quân bình. Khi quán trí này do định phát sanh thì trí này là tịnh trí, chính vì nhờ tịnh do đó nó hoàn toàn có thể thông đạt thật nghĩa của những pháp trong thiên hà một cách như thật. Đó là bốn pháp thần túc thông dụng mà tất cả chúng ta thường gặp. Quán thần túc, ở đây đối với vị của gia hạnh, quán sát tư duy lý, nhờ nương vào sức mạnh của quán, nên định dẫn phát mà khởi lên.

Quán thần túc, ở đây đối với vị của gia hạnh, quán sát tư duy lý, nhờ nương vào sức mạnh của quán, nên định dẫn phát mà khởi lên.

Thực tập tứ niệm xứ Ngoài ra theo Câu-xá quang ký 25 thì : “ Bốn pháp này theo vị gia hạnh mà xây dựng tên thì : 1 – Dục thần túc, ở đây dục so với vị của gia hạnh mà khởi lên định này, vì nương vào sức mạnh của dục, nên định dẫn phát mà khởi lên. 2 – Cần thần túc, ở đây so với vị của gia hạnh mà siêng năng tu tập định này, nhờ nương vào sức mạnh của siêng năng tinh tấn nên định dẫn phát mà khởi lên. 3 – Tâm thần túc, ở đây so với vị của gia hạnh nhất tâm chuyên trụ, nhờ nương vào sức mạnh của tâm, nên định dẫn phát khởi lên. 4 – Quán thần túc, ở đây so với vị của gia hạnh, quán sát tư duy lý, nhờ nương vào sức mạnh của quán, nên định dẫn phát mà khởi lên.

Trong địa vị của gia hạnh tuy có nhiều pháp, nhưng bốn pháp này là lợi ích tối thắng. Cho nên từ bốn pháp này mà gọi tên”.

Theo Pháp giới thứ đệ sơ môn, phần cuối quyển trung của ngài Trí Khải Đại sư, thì ở trong Tứ niệm xứ là thật tu trí tuệ, trong Tứ chánh cần là chính tu tinh tấn. Như vậy ở đây tuệ nhiều, định ít, nên nay phải nhiếp tâm tu bốn loại thiền định để quân bình định tuệ, mọi sở nguyện đạt được, cho nên vì thế gọi là như mong muốn túc. Qua những kinh luận trên cho tất cả chúng ta thấy rằng Đức Đạo sư đã sắp xếp mọi pháp có trước có sau theo thứ tự những đối tượng người tiêu dùng dục, tinh tấn, tâm và quán. Đây là nền tảng mà hành giả tu tập thiền định cần có trong việc làm cân đối định tuệ. Chúng được gọi là suôn sẻ túc vì chúng là những đối tượng người tiêu dùng để cho tổng thể mọi thứ công đức tu hành, thần lực nương vào đó mà phát sanh, và thành tựu theo như ý muốn của hành giả. Bốn phép này là bốn nấc thang thứ tự theo nhau, đưa hành giả từ cái nhân hữu lậu mê mờ đến cái nhân vô lậu giải thoát. Trước hết, do thường mong ước ( dục ) cho nên vì thế siêng năng nỗ lực tu tập dũng mãnh ( tinh tấn ) ; nhờ sự tinh tấn tu tập dũng mãnh nên phiền não được tiêu trừ, nhờ vậy mà tâm được chuyên nhất ( tâm ), nhờ tâm chuyên nhất nên quán trí được thanh tịnh ( quán ), để trở thành năng lượng phá vỡ nền tảng vô minh. Nhưng trong trong thực tiễn khi hành giả tu tập, chúng phải đồng lúc hiện hữu theo luật tắc duyên khởi.

Xem thêm video”Lời Phật dạy về các tín ngưỡng dân gian”:

Source: https://entechgadget.com
Category: Wiki

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Bài viết hay nhất

DANH MỤC WEBSITE