Thứ Tư, Tháng Bảy 6, 2022
HomeWikiTứ thơ nghĩa là gì

Tứ thơ nghĩa là gì

TỨ THƠ VÀ VAI TRÒ CỦA TỨ THƠ

Bạn đang đọc: Tứ thơ nghĩa là gì

1. Khái niệm tứ thơ được bàn tới cách đây hơn 1500 năm. Trong Văn tâm điêu long, ở thiên Thần tứ, Lưu Hiệp ( đời nhà Lương ) đã bàn rất sâu và rất kỹ về tứ. Theo ông, tứ thơ là một cái gì đó rất khác thường : Cái tứ của văn chương, cái thần của nó xa lắm. Cho nên khi ta lặng lẽ ngừng tâm lý lại một chỗ thì cái tứ tiếp với ngàn năm. Ta trầm lặng biến hóa sắc mặt một chút ít thì cái nhìn của ta đã thông suốt đến vạn dặm .

Ở Nước Ta, Phan Kế Bính, Bùi Kỷ, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hà Minh Đức, Nguyễn Xuân Nam, Bùi Công Hùng, Mã Giang Lân có bàn đến tứ thơ. Mỗi người có một cách trình diễn riêng. Chế Lan Viên cho tứ chẳng qua là ý lớn toàn bài ( Nghiên cứu văn học, 11/1961 ). Nguyễn XuânNamlại ý niệm tứ là hình tượng xuyên suốt bài thơ ( Lý luận văn học, tập 2, Nxb Giáo dục đào tạo, 1987 ). Gần đây, Nguyễn Hưng Quốc, một Việt kiều ở Úc, sau khi phê phán ý niệm về tứ thơ của Chế Lan Viên, Nguyễn XuânNam : Một đằng thiên về ý, một đằng thiên về hình tượng. Nhưng lại giống nhau ở một điểm : chưa ổn, đã nêu định nghĩa vắn tắt : Tứ thơ là những tâm lý của trái tim trước cuộc sống ( Tìm hiểu nghệ thuật và thẩm mỹ thơ ViệtNam ). Theo chúng tôi, định nghĩa này quá chung chung do tại những tâm lý của trái tim trước cuộc sống không chỉ có trong thơ mà còn có cả trong những thể loại trữ tình dào dạt cảm hứng như phú, văn tế, tuỳ bút

Tuy chưa có một định nghĩa thống nhất về tứ nhưng về cơ bản những nhà thơ, nhà nghiên cứu và điều tra văn học đều nhấn mạnh vấn đề đến phát minh sáng tạo cá thể, sự hoà quyện giữa xúc cảm và tâm lý, giữa yếu tố chủ quan và khách quan trong tứ thơ .

2. Tứ thơ, theo nhiều nhà nghiên cứu và điều tra, là một cái gì rất tổng hợp. Vì thế quy trình tìm tứ thơ cũng là quy trình tổng hợp. Nhà thơ phải vận dụng cùng lúc ba năng lực : cảm hứng, liên tưởng, suy luận. Chỉ khi nào ba yếu tố ấy nhập thân vào một hình tượng đơn cử tứ thơ mới hình thành. Chẳng hạn : Nỗi buồn tràng giang trong Huy Cận đã có từ lâu nhưng phải đến lúc gặp cảnh sông dài, trời rộng, bèo dạt, củi trồi, bến vắng ý niệm một mình của người viễn xứ càng sâu đậm, nỗi sầu li hương càng tha thiết thì tứ thơ Lòng quê dợn dợn vời con nước / Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà mới bật lên .

Mặt khác, tìm tứ là quy trình phát hiện cái không bình thường từ những cái rất mực thông thường. Sự Open của tứ thơ thường giật mình, khó đoán định trước nhưng không phải là một điều ngẫu nhiên, thần bí. Chẳng hạn : Thế Lữ hàng ngày đi qua vườn Bách thảo để đến toà soạn báo nhưng phải đến một buổi trưa hè, ngồi nghỉ cạnh vườn, nghe tiếng chân người làm vườn uể oải kéo lê trên sỏi, ghê ghê cả người. Lúc đó mới nghĩ đến con hổ bị nhốt trong này buồn biết bao. Từ đó nẩy ra tứ thơ thương nhớ rừng .

Tương tự, bài Núi đôi, theo Vũ Cao cũng Open tứ núi vẫn đôi mà anh mất em khi nhà thơ hành quân qua miền trung du, nhìn thấy hai ngọn núi đứng gần nhau, từ đó liên tưởng đến : núi còn – người mất. Phạm Ngọc Cảnh tìm được tứ bài thơ Vầng trăng Ba Đình rất giật mình. Trước đó Hải Như đã ví Bác với mặt trời : Có một mặt trời trong lăng rất đỏ. Ông thấy cách so sánh đó không hợp với phong thái giản dị và đơn giản, thân mật của Bác nhưng chưa tìm được tứ. Một đêm, đi chơi ngoài thành phố gặp cảnh trăng rất sáng, trải ra mênh mang, nhà thơ bỗng nẩy ra liên tưởng ánh trăng đẹp, êm dịu với phẩm chất, nhân cách hiền hoà, thân mật của lãnh tụ và tứ thơ vầng trăng Ba Đình bật ra .

Theo Nguyễn Hưng Quốc, sự hình thành tứ thơ phải trải qua ba quy trình tiến độ :

– Đầu tiên, phải có một cảnh vật, một sự kiện đơn cử có năng lực gây ấn tượng can đảm và mạnh mẽ, thâm thúy .

– Ấn tượng ấy cứ âm vang mãi trong tâm hồn, tạo nên những xúc cảm sâu đậm .

– Từ ấn tượng và cảm hứng ấy, nhà thơ phải vận dụng năng lực liên tưởng, tưởng tượng và suy luận để tìm ý, tìm vật liệu tiến hành thành một bài thơ hoàn hảo .

3. Cấu trúc của tứ

Như trên đã nói, trong tứ có cảm hứng, suy luận, liên tưởng. Tứ nẩy sinh trên một nền cảm hứng cự kỳ nhiều mẫu mã. Nó được chỉ huy bởi lý trí và có những liên tưởng mới mẻ và lạ mắt, tạo ra ý giật mình mê hoặc. Đều lấy thi liệu từ ánh trăng xinh xắn, hiền hoà, thơ mộng nhưng mỗi nhà thơ lại có những liên tưởng khác nhau để tạo ra tứ. Chế Lan Viên, trong bài Trăng, liên tưởng trăng với đôi mắt em : Giữa hai cây lại đôi mắt em nhìn / Anh đến suối mặt em cười dưới suối / Lòng anh chạy cho lòng em theo đuổi / Đêm ái tình đâu cũng mặt trăng em ( Đôi mắt em ). Hàn Mạc Tử liên tưởng trăng với mỹ nhân đa tình nằm sóng soãi trên cành liễu / Đợi gió đông về để lả lơi ( Bẽn lẽn ). Trần Đăng Khoa lại liên tưởng trăng với mắt cá : Trăng tròn như mắt cá / Chẳng khi nào chớp mi ( Trăng ơi từ đâu đến ) .

4. Tứ thơ có tính phổ quát

Bài thơ nào cũng có tứ. Tứ thơ có khi hiện rõ, có khi kín kẽ khó tìm thấy, phải nghiền ngẫm mới tìm ra. Tìm được cái tứ mới phát hiện được cái thần sắc, cái tinh xảo, sâu kín nhà thơ gửi gắm trong đó. Có bài thơ, tứ hiện lên ở tên bài như Nhớ rừng, Ta đi tới, Vầng trăng Ba Đình ; hoặc trong câu thơ, khổ thơ như Núi đôi, Bẽn lẽn, Cuộc chia li màu đỏ, Yêu nhưng cũng có những bài, tứ ẩn trong hình tượng như Thời gian, Gửi hương cho gió, Hy Mã Lạp Sơn. Chẳng hạn, bài Thơ duyên của Xuân Diệu tứ kín kẽ. Ở đây, nẩy sinh tình cảm từ không đến có. Thiên nhiên xúi giục ta đến với nhau. Thiên nhiên dăng mắc lưới tình bẩy anh và em vào trong đó

5. Về Lever

Có hai Lever : tứ toàn bài và tứ cục bộ ( câu, đoạn ). Trong bài Màu tím hoa sim ( Hữu Loan ) tứ toàn bài là màu tím hoa sim gợi bao nỗi niềm thương nhớ nhưng đồng thờ bài thơ cũng có tứ cục bộ như tứ trong những câu : Nhưng không chết người trai khói lửa / Lại chết người gái nhỏ hậu phương ; hay tứ trong đoạn : Ba người anh trên mặt trận Đông Bắc / Nhận được tin em gái mất / Trước tin em lấy chồng để nói lên cái mất mát, tang tóc bao trùm lên cả dân tộc bản địa. Đồng thời, cái đau buồn, mất mát luôn hằn sâu, khắc khoải trong cõi lòng người ở lại .

6. Vai trò của tứ thơ

Tứ thơ qui định sự sáng tạo của hình tượng thơ. Nó làm cho tư duy nhà thơ loé sáng. Nó rọi ra con đường để nhà thơ đi vào hoạt động sáng tạo.

Xét trên toàn diện và tổng thể, tứ thơ mang đặc thù khải thị ( bừng sáng ), giúp cho nhà thơ ngay lập tức trong một khoảnh khắc ngắn ngủi nào đó nhận ra đặc thù toàn vẹn của yếu tố, của sự vật, hiện tượng kỳ lạ đang đối lập với mình và thử thách cảm hứng, tâm lý của mình. Hay nói cách khác, Tứ thơ là một sự phát hiện – phát hiện của nhà thơ về bản thân và quốc tế .

Do tính chất phát hiện, tứ thơ đóng vai trò qui định âm hưởng, màu sắc, độ dài của bài thơ và có lúc cả thể thơ được tác giả lựa chọn. Chẳng hạn, giữa hình ảnh rặng liễu vào thu với hình ảnh cô gái xoã mái tóc buồn chẳng có mối liên hệ tất yếu gì nhưng trong bài Đây mùa thu tới của Xuân Diệu, tứ thơ về sự chuyển mùa đáng giật mình của thời gian qua bước chân mùa thu đẹp thì mối liên hệ ấy trở nên tất yếu. Và chính nó làm cho âm hưởng bài thơ trở nên xôn xao buồn. Ở đây, tứ thơ đã qui định chiều hướng cảm xúc, âm hưởng, màu sắc của bài thơ.

Mỗi tứ thơ yên cầu phải có một thể thơ tương ứng. Có khi phải đổi thể thơ thì tứ thơ mới bật ra. Chẳng hạn : Bài Tràng giang Huy Cận phải chuyển từ lục bát sang thất ngôn ; Đẹp xưa chuyển từ Đường luật sang lục bát .

Tóm lại : Công việc làm thơ trước hết là kiếm tứ. Ngôn từ, lời chữ, vần rất quan trọng, bởi thơ là nghệ thuật và thẩm mỹ của ngôn từ. Tuy nhiên, đó là cái quan trọng thứ hai, mà cái quan trọng thứ nhất làm rường cột cho tổng thể là tứ thơ, nó chỉ huy cả bài ( Xuân Diệu ). Công việc của người bình thơ, nghiên cứu và phân tích thơ cũng phải tìm cho ra cái tứ trong bài. Khi tìm được tứ, ý, hình tượng, thần thái bài thơ sáng rõ, tất cả chúng ta thuận tiện lần được mạch xúc cảm và ý tứ nhà thơ gửi gắm trong đó .

Source: https://entechgadget.com
Category: Wiki

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Bài viết hay nhất

DANH MỤC WEBSITE